Ngoại trưởng John Kerry đã nói và làm gì ở Việt Nam ?

Ngoại trưởng John Kerry đã nói và làm gì ở Việt Nam ? http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=26127

LTS: Ngọai trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã thăm Việt Nam từ ngày 14 đến 16/12/2013, nhưng ông đã nói và làm gì trong thời gian này? Liệu các cuộc họp giữa ông Kerry với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có làm cho Việt Nam “xích lại” gần với Hoa Kỳ trong bối cảnh Việt Nam ngày càng “lệ thuộc tòan diện” vào Trung Cộng?

Nhưng Ông Kerry đã nói gì về Nhân quyền và các quyền Tự do khác tại Sài Gòn và liệu có tù nhân lương tâm và chính trị nào sẽ ra khỏi nhà giam sau chuyến thăm Việt Nam của Ngọai trường John Kerry?

Và ông Kerry đã nói Lãnh đạo Việt Nam cần phải làm gì để Quốc hội Mỹ có thể đồng ý cho Việt Nam gia nhập Hiệp Định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương?

Tất cả những thắc mắc này đã được ông Kerry gói ghém trong các Tài liệu của của Bộ Ngọai giao và Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội phổ biến sau khi ông rời Hà Nội ngày 17/12/2013.

Chúng tôi xin giới thiệu đến Độc giả các Tài liệu này để tham khảo.

Những “chữ nghiêng và hàng chữ in đậm có gạch dưới” là do Nhà báo Phạm Trần, người cung cấp các Văn kiện này thực hiện nhằm lưu ý đến những điểm đáng chú ý.

(Ban Biên tập)

————–

(Tài liệu 1)

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Văn phòng Phát ngôn viên Dành cho đăng tải ngay 16/12/2013 2013/1582 Vào tháng 7/2013, Tổng thống Obama và Chủ tịch Sang công bố Quan hệ Đối tác Toàn diện Hoa Kỳ-Việt Nam, một thỏa thuận bao quát nhằm thúc đẩy quan hệ song phương. Mối quan hệ đối tác mới này thúc đẩy các sáng kiến tăng cường quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam và nhấn mạnh cam kết lâu dài của Hoa Kỳ đối với chính sách tái cân bằng tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trong một nỗ lực nhằm thúc đẩy Quan hệ Đối tác Toàn diện và nêu bật sự chuyển biến sâu sắc quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong thời gian qua, Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã công bố kết quả chuyến thăm Việt Nam từ ngày 14-16 tháng 12 năm 2013 như sau:

Xây dựng Năng lực Hàng hải: Ngoại trưởng John Kerry công bố cam kết ban đầu trị giá 32,5 triệu đôla cho viện trợ khu vực và song phương mới để phát triển năng lực hàng hải tại Đông Nam Á. Công bố của Ngoại trưởng dựa trên cam kết lâu dài của Hoa Kỳ ủng hộ nỗ lực của các quốc gia Đông Nam Á nhằm tăng cường an ninh và thịnh vượng trong khu vực, bao gồm cả lĩnh vực hàng hải. Đối với Việt Nam, Hoa Kỳ dự kiến dành 18 triệu đôla từ dự án mới này để hỗ trợ tăng cường năng lực cho các đội tuần tra biển triển để nhanh chóng triển khai các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ, đối phó với thảm họa và các hoạt động khác, bắt đầu bằng việc huấn luyện và cấp năm tàu tuần tra cao tốc cho Lực lượng Cảnh sát Biển Việt Nam.

Hợp tác Kinh tế: Ngoại trưởng đã gặp gỡ với các lãnh đạo doanh nghiệp Hoa Kỳ và Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh để thúc đẩy quan hệ kinh tế và thương mại. Ngoại trưởng chúc mừng công ty General Electric (GE) và công ty Công Lý về hợp đồng giữa hai bên; qua đó GE sẽ cung cấp bổ sung các tua-bin gió trị giá 94 triệu đôla cho dự án năng lượng điện gió tại tỉnh Bạc Liêu. Đây là thỏa thuận đầu tiên ở khối tư nhân giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp Định Đối tác Toàn diện về Năng lượng giữa Hoa Kỳ và Châu Á- Thái Bình Dương, và là dự án năng lượng tái tạo đầu tiên được cấp vốn, đặc biệt, theo biên bản ghi nhớ trị giá 500 triệu đôla giữa ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Hoa Kỳ và Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam. Thỏa thuận thương mại này nhấn mạnh sự hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và phát triển bền vững ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu của Hoa Kỳ và hỗ trợ tạo việc làm ở Việt Nam và Hoa Kỳ. Vào tháng 10, GE Aviation ký kết một thỏa thuận trị giá 1,7 tỉ đôla cung cấp động cơ và dịch vụ cho máy bay Boeing 787 của Hàng Không Việt Nam (Vietnam Airlines). Các thỏa thuận thương mại này được ký kết dựa trên mối quan hệ thương mại song phương mạnh mẽ đã tăng gấp hơn 50 lần trong vòng 20 năm qua, đạt 25 tỉ đôla vào năm 2012.

Tại Hà Nội, Ngoại trưởng và các lãnh đạo Việt Nam cam kết làm sâu sắc hơn nữa quan hệ thương mại thông qua Hiệp Định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Ngoại trưởng công bố một khoản hỗ trợ trị giá 4.2 triệu đôla cho chương trình Quản trị vì Tăng trưởng Trọn vẹn (Governance for Inclusive Growth) của USAID. Chương trình được thiết kế để tạo thuận lợi cho tăng trưởng trên diện rộng và bền vững.

Các vấn đề Biến đổi Khí hậu và Môi trường: Ngoại trưởng Kerry thăm Đồng bằng sông Cửu Long ngày 15/12 để nêu bật sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề cốt yếu về biến đổi khí hậu, môi trường và phát triển để duy trì sông Mê Kông là nguồn sinh kế và phương tiện sinh sống của gần 70 triệu người trong khu vực. Ngoại trưởng tuyên bố cam kết viện trợ 17 triệu đôla cho Chương trình Rừng và Đồng bằng Việt Nam của USAID, hiện đang được thực hiện tại bốn tỉnh, trong đó có Long An ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ngoại trưởng cũng nêu bật Sáng kiến Hạ nguồn sông Mê Kông và Chương trình Cơ sở Hạ tầng Thông minh cho sông Mê Kông, trang bị các công trình khoa học tốt nhất có sẵn để các quốc gia đưa ra các quyết định về cơ sở hạ tầng.

Hợp tác Giáo dục: Ngoại trưởng Kerry đã gặp gỡ các cựu sinh viên và cán bộ giảng dạy của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright do Bộ Ngoại giao tài trợ. Chương trình này cấp bằng Thạc sĩ tại cơ sở đào tạo ở thành phố Hồ Chí Minh. Ngoại trưởng đã bày tỏ sự hỗ trợ mạnh mẽ cho các kế hoạch chuyển chương trình này thành một trường đại học kiểu Mỹ. Thúc đẩy Tôn trọng Nhân quyền: Nhấn mạnh vai trò then chốt của vấn đề nhân quyền trong phát triển kinh tế và ổn định xã hội, cũng như trong mối quan hệ song phương, Ngoại trưởng Kerry đã trao đổi với các lãnh đạo xã hội dân sự, hoanh nghênh việc Chính phủ Việt Nam ký Công ước Chống Tra tấn và mời Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo và Tín ngưỡng của Liên Hiệp Quốc thăm Việt Nam trong năm 2014 và yêu cầu Chính phủ Việt Nam có thêm nhiều tiến bộ về nhân quyền, bao gồm quyền tự do lập hội và quyền tự do bày tỏ quan điểm. Ngoài ra, kể từ tháng 7/2013 khi Tổng thống Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang tuyên bố Quan hệ Đối tác Toàn diện, Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký tắt hiệp định hợp tác hạt nhân dân sự, ký hợp đồng đánh giá môi trường về nhiễm điôxin tại Căn cứ Không quân Biên Hòa và ký Bản ghi nhớ về tiếp tục hợp tác giải quyết vật liệu nổ còn sót lại. Hoa Kỳ và Việt Nam cũng đã tăng cường đối thoại song phương và các chuyến thăm cấp cao (bao gồm chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Tài chính (Jacob J.) Lew, Đại diện thương mại Hoa Kỳ Froman, Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ Locklear và Tư lệnh Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ Papp) nhằm tăng cường hợp tác song phương trong các vấn đề quan trọng của toàn cầu và khu vực.

———————-

(Tài liệu 2)

Họp báo chung với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh

Họp báo John Kerry Bộ trưởng Ngoại giao Nhà khách Chính phủ Hà Nội, Việt Nam 16/12/2013

CHỦ TỌA: Thưa ngài John Kerry, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, thưa ngài Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, thưa các quý ông quý bà, các anh chị phóng viên; tôi xin trân trọng kính mời Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry sẽ chủ trì cuộc họp báo để thông báo về kết quả cuộc hội đàm vừa diễn ra giữa hai bên. Để bắt đầu, tôi xin phép được trân trọng giới thiệu Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh phát biểu với báo chí.

PHÓ THỦ TƯỚNG MINH: Thưa ngài Ngoại trưởng John Kerry, thưa các vị phóng viên báo chí. Trước tiên tôi xin chào mừng ngài John Kerry quay trở lại thăm Việt Nam với tư cách Ngoại trưởng và tôi cám ơn ngài Ngoại trưởng đã dành nhiều tình cảm tốt đẹp đối với Việt Nam và con người Việt Nam. Tôi một lần nữa xin bày tỏ sự đánh giá cao những đóng góp rất to lớn của ngài trước đây với cương vị Thượng Nghị sỹ cũng như ngày nay với cương vị Ngoại trưởng trong việc thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Tôi và ngài Ngoại trưởng John Kerry đã có cuộc hội đàm thẳng thắn, cởi mở, xây dựng và hữu ích. Tôi và ngài Ngoại trưởng đã trao đổi rất nhiều vấn đề về thúc đẩy quan hệ song phương cũng như những vấn đề trên bình diện hợp tác ở khu vực. Chúng tôi hài lòng trước những bước phát triển thực chất trong quan hệ trên bình diện song phương và đa phương kể từ khi hai nước xác lập Đối tác Toàn diện trong chuyến đi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 2013 vừa qua. Và chúng tôi cũng đã trao đổi nhiều biện pháp để tiếp tục triển khai đối tác toàn diện, đưa quan hệ phát triển mạnh mẽ hơn nữa trên tất cả các lĩnh vực. Chúng tôi cũng nhất trí hai bên sẽ tăng cường trao đổi đoàn các cấp, tiếp tục duy trì các cơ chế đối thoại hiện có và đẩy mạnh hơn nữa hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư. Và hiện nay Mỹ là bạn hàng thương mại hàng đầu và là đầu tư nước ngoài lớn thứ 7 tại Việt Nam. Tuy nhiên, có thể nói hai bên còn rất nhiều tiềm năng để tăng cường hơn nữa về quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư để tương xứng với mối quan hệ Đối tác Toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Ngoại trưởng John Kerry và tôi cũng nhất trí cần tăng cường hơn nữa những hợp tác trong lĩnh vực hợp tác khoa học công nghệ trong đó có việc sớm chính thức ký Hiệp định Hợp tác trong Lĩnh vực Hạt nhân Dân sự (Hiệp định 123). Ngoài ra, hợp tác trong các lĩnh vực khác như giao dục đào tạo, y tế, biến đổi khí hậu, nhân đạo và giải quyết hậu quả chiến tranh cũng được thúc đẩy trong thời gian tới.

Nhân dịp này, tôi cũng đánh giá cao việc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã ký hợp đồng triển khai đánh giá tác động môi trường tại điểm nóng da cam Sân bay Biên Hoà và việc USAID và Bộ Lao động Thương binh Xã hội vừa ký MOU về hợp tác khắc phục hậu quả bom mìn.

Ngài Ngoại trưởng và tôi cũng nhất trí hai bên sẽ tiếp tục đối thoại thẳng thắn, tích cực xây dựng về những vấn đề trong quan điểm còn khác nhau, trong đó có vấn đề Quyền con người. Chúng tôi cũng đã trao đổi về việc hợp tác trong khuôn khổ diễn đàn khu vực và quốc tế và khẳng định ủng hộ sự đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN trong cơ chế hợp tác cũng như trong một cấu trúc đang định hình trong khu vực. Về vấn đề Biển Đông, chúng tôi cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo hoà bình, ổn đinh, đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải; chia sẻ những quan điểm rằng những tranh chấp trong vấn đề Biển Đông cần được giải quyết bằng các biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển năm 1982, các bên liên quan cần nghiêm túc thực hiện Tuyên bố Ứng xử các bên tại Biển Đông DOC và sớm tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử COC giữa ASEAN và Trung Quốc.

Xin cám ơn.

CHỦ TOẠ: Xin trân trọng cám ơn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh. Tiếp theo, tôi xin trân trọng kính mời ngài John Kerry.

BỘ TRƯỞNG KERRY: Cảm ơn ông rất nhiều, Bộ trưởng Ngoại giao Minh. Thật hân hạnh lại có mặt bên cạnh ông. Tôi rất vui có mặt với các bạn tại đây. Và tôi rất vui mừng có mặt ở Hà Nội lần đầu tiên trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao và thấy tận mắt mối quan hệ của chúng tôi với Việt Nam ngày càng thêm sâu sắc và tiến về phía trước ra sao. Thật là ý nghĩa với cá nhân tôi khi có mặt ở đây, hiển nhiên, vì chuyện trong quá khứ, nhưng thẳng thắn mà nói, vào lúc này điều đó có ý nghĩa vì những lý do liên quan đến tương lai nhiều hơn. Tôi muốn cảm ơn người bạn của tôi, giờ là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Minh, về lòng mến khách của ông và về cuộc thảo luận rất hiệu quả, tiếp nối các cuộc thảo luận mà chúng tôi đã có ở New York và tại các hội nghị, trong khuôn khổ ASEAN, cũng như các cuộc gặp của tôi với Chủ tịch Sang, và với Thủ tướng Dũng. Tôi cũng mong đợi cuộc gặp với Thủ tướng Dũng sắp tới, và với Tổng Bí thư Trọng sau đây trong ngày hôm nay.

Đây là lần thứ tư tôi đến châu Á kể từ khi tôi trở thành Bộ trưởng, và tôi muốn nhấn mạnh lại rằng việc Hoa Kỳ tái cân bằng hướng tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương là một ưu tiên hàng đầu của Tổng thống Obama ngay từ ngày đầu khi ông nhậm chức. Và hôm nay, các sáng kiến của chúng tôi về kinh tế, ngoại giao, chiến lược, và quan hệ nhân dân trong toàn khu vực đang mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Điều mà một số người đang gọi là sự tái cân bằng của chúng tôi bên trong sự tái cân bằng, tức là tăng cường đặt trọng tâm vào Đông Nam Á, thì hiện đang là một phần trung tâm trong chính sách của chúng tôi, tương tự như vậy là sự gắn kết của chúng tôi với ASEAN, là khối nằm ở trung tâm của cấu trúc khu vực của Châu Á-Thái Bình Dương. Thẳng thắn mà nói, không ở đâu mà việc nâng cao đầu tư và gắn kết lại quan trọng hơn hoặc có thể thấy rõ hơn là ngay ở đây, ở Việt Nam.

Khi tôi hạ cánh ở Hà Nội vào năm 1991 lần đầu tiên với tư cách dân sự và là một thượng nghị sĩ, tôi có những ký ức rất rõ ràng về một Hà Nội rất, rất khác biệt. Hồi đó vẫn áp dụng luật hạn chế người dân giao tiếp với người nước ngoài. Hoàn toàn không có sự sống động và sinh lực mà bạn nhìn thấy hôm nay thể hiện qua các cửa hàng, cửa hiệu và hoạt động kinh doanh. Thực sự có rất, rất ít ô tô hồi đó. Hầu như tất cả mọi người đều đi xe đạp, xe đạp khắp mọi nơi, các đường phố tràn đầy xe đạp theo nghĩa đen. Và có rất ít xe máy, rất ít xe máy, thậm chí không có nhiều khách sạn. Tôi nhớ đã nghỉ trong Nhà khách Chính phủ.

Ngày nay, sinh lực của thành phố này rất to lớn, sinh lực của đất nước này cũng vậy, và sự chuyển đổi quả là đáng kinh ngạc. Trong những năm tháng kể từ khi chúng tôi dỡ bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hiện đại và đối tác quan trọng của Hoa Kỳ. Và đó là một quốc gia hiện có gần 40% dân số dưới 25 tuổi, tất cả mọi người đầy ắp sinh lực và lòng nhiệt tình cho tiềm năng của tương lai.

Tháng 7 năm ngoái, Tổng thống Obama và Chủ tịch Sang đã ký kết về một cấp độ hợp tác mới và công bố Quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ. Và tôi muốn đề cập ngắn gọn đến bốn lĩnh vực cụ thể mà chúng ta đang làm sâu sắc thêm mối quan hệ song phương của chúng ta. Trước hết, chúng ta biết rằng giáo dục, giáo dục gắn với quan hệ nhân dân của chúng ta, đang xây nền móng cho một mối quan hệ đối tác Hoa Kỳ-Việt Nam chặt chẽ trong những năm tới. Và chúng ta đã đạt được tiến bộ lớn trong việc tăng cường các quan hệ đó. Hiện nay, hơn 16.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Hoa Kỳ, nhiều hơn hầu hết các nước khác trên thế giới. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã có dịp gặp gỡ, nói chuyện và lắng nghe một số bạn nam nữ trẻ tuổi và rất ấn tượng, họ là những cựu sinh viên trong số 4.000 cựu sinh viên của chương trình Fulbright ở Việt Nam. Tôi đặc biệt tự hào về chương trình này vì khi tôi còn là một thượng nghị sĩ trẻ tuổi, tôi đã khởi phát những nỗ lực tại Thượng viện để bắt đầu chương trình này. Và chẳng bao lâu, nó đã trở thành chương trình Fulbright lớn nhất trên thế giới. Hiện nay, nó là chương trình lớn thứ hai trên thế giới. Đến nay nó là một thành công phi thường, và chúng tôi mong phát huy trên cơ sở sự thành công đó bằng cách tiếp tục làm việc với Chính phủ Việt Nam để thành lập Trường Đại học Fulbright hoàn chỉnh ở Việt Nam trong tương lai gần.

Lĩnh vực thứ hai mà chúng ta đang tập trung vào là thương mại. Thương mại có lẽ là ví dụ rõ rệt nhất về việc hai quốc gia chúng ta đã tiến xa thế nào trong vòng 18 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ. Thương mại hai chiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã tăng gấp hơn 50 lần kể từ năm 1995. Tuần trước, chúng ta đã khởi động chương trình Quản trị vì Tăng trưởng Trọn vẹn, thông qua đó Hoa Kỳ sẽ trợ giúp cho quá trình chuyển đổi đang diễn ra của Việt Nam để trở thành một nền kinh tế trọn vẹn hơn, dựa trên thị trường, và có nền tảng là pháp quyền.

Và như tôi đã nói các nhà lãnh đạo kinh doanh tại thành phố Hồ Chí Minh hôm Thứ Bảy, sự trợ giúp mà chúng tôi cung cấp thông qua chương trình mới này cũng sẽ giúp Việt Nam thực thi hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Một khi hoàn tất, TPP sẽ nâng cao các tiêu chuẩn, kể các các tiêu chuẩn lao động, và mở cửa các thị trường. Nó sẽ tạo ra hàng triệu việc làm mới, không chỉ ở Hoa Kỳ và Việt Nam mà còn ở trên toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi đang làm việc rất chặt chẽ với Việt Nam và các đối tác khác trong khu vực để hoàn tất các cuộc đàm phán TPP càng nhanh càng tốt. Nhưng để hiện thực hoá các tiềm năng của chúng tôi như là một đối tác và để Việt Nam hiện thực hoá tiềm năng của mình như là một nền kinh tế phát triển mạnh – và đây là điều mà chúng tôi đã trao đổi cởi mở và thẳng thắn – thì Việt Nam cần phải thể hiện là có tiến bộ không ngừng về nhân quyền và các quyền tự do, trong đó có tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, và tự do lập hội. Tôi đã nêu rõ điểm này với Phó Thủ tướng Minh, như tôi đã làm như vậy trong tất cả các cuộc thảo luận trước đây của tôi với các quan chức Việt Nam.

Thứ ba, chúng ta đang cộng tác chặt chẽ về môi trường. Biến đổi khí hậu có lẽ là mối đe dọa riêng rẽ lớn nhất đang đối diện hầu hết các quốc gia trên hành tinh hiện nay. Hôm qua, tôi đã có dịp thăm các vùng sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long mà cũng chính là những nơi tôi đã tuần tra cách đây 45 năm, và tôi tận mắt thấy những cách thức mà Hoa Kỳ và Việt Nam đang kề vai sát cánh làm việc để đạt được sự phát triển sao cho vẫn bền vững đối với môi trường, đối với nền kinh tế địa phương, và quan trọng nhất là bền vững đối với khí hậu.

Và cuối cùng, chúng ta đang làm việc để tăng cường an ninh khu vực. Chúng ta đang mở rộng sự cộng tác của chúng ta về trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thảm họa cũng như năng lực tìm kiếm và cứu nạn. Chúng ta cũng đang làm việc chặt chẽ hơn bao giờ hết về các nỗ lực gìn giữ hòa bình. Năm tới, Việt Nam sẽ tham gia lần đầu tiên vào các hoạt động gìn giữ hòa bình toàn cầu của Liên Hợp Quốc.

Không khu vực nào có an ninh nếu thiếu đi sự thực thi luật pháp hiệu quả trong vùng biển chủ quyền. Vì thế, hôm nay tôi vui mừng thông báo khoản trợ giúp mới trị giá 32,5 triệu đôla dành cho việc thực thi luật pháp trên biển tại các quốc gia Đông Nam Á. Khoản trợ giúp này, cùng với nhiều trợ giúp khác, sẽ bao gồm việc huấn luyện và cung cấp tàu tuần tra cao tốc cho lực lượng cảnh sát biển. Dựa trên những nỗ lực đã có sẵn như Sáng kiến Vịnh Thái Lan, khoản trợ giúp này sẽ thúc đẩy sự hợp tác hơn nữa trong khu vực về các vần đề biển và sau cùng sẽ giúp cho các quốc gia Đông Nam Á có thể thực hiện các hoạt động nhân đạo, đồng thời tuần tra, theo dõi vùng biển của mình một cách hiệu quả hơn.

Đặc biệt, hòa bình và ổn định tại Biển Đông là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi và của các nước trong khu vực. Chúng tôi rất quan ngại và phản đối mạnh mẽ các âm mưu gấy hấn và cưỡng ép nhằm thúc đẩy các đòi hỏi chủ quyền. Các bên liên quan phải có trách nhiệm làm rõ các lời tuyên bố về chủ quyền và điều chỉnh các lời tuyên bố đó cho khớp với luật pháp quốc tế, đồng thời theo đuổi các tuyên bố đó với các định chế hòa bình quốc tế. Các nước liên quan có thể sử dụng trọng tài và các biện pháp khác để đàm phán các tranh chấp một cách hòa bình. Chúng tôi ủng hộ các nỗ lực của ASEAN với Trung Quốc để nhanh chóng tiến tới kết thúc Bộ Quy tắc Ứng xử Biển Đông. Trong khi Bộ Quy tắc Ứng xử là cần thiết cho dài hạn, các quốc gia có thể giảm các rủi ro do trao đổi thông tin sai lệch và tính toán sai lầm gây ra bằng cách có những bước chuẩn bị để ngăn ngừa khủng hoảng. Đó là cách dễ dàng để giảm căng thẳng và các nguy cơ xung đột.

Ngày nay, các nỗ lực đó cần thiết cho khu vực Biển Đông hơn bất kỳ khu vực nào khác. Tổng thống Obama và tôi rõ ràng rất quan ngại về các hành động gần đây đã làm gia tăng căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản, và chúng tôi kêu gọi tăng cường đối thoại và có các sáng kiến ngoại giao.

Cuối cùng, khi thảo luận về các tranh chấp chủ quyền, tôi cũng đã nêu các quan ngại sâu sắc về tuyên bố của Trung Quốc về vùng nhận dạng phòng không (ADIZ). Hành động này rõ ràng làm tăng nguy cơ của những tính toán sai lầm rất nguy hiểm hay các sự cố, và nó làm gia tăng hơn nữa căng thẳng. Tôi đã nói với ngài Phó Thủ tướng rằng Hoa Kỳ không công nhận vùng nhận dạng phòng không đó và không chấp nhận nó. Tuyên bố của Trung Quốc không làm thay đổi việc Hoa Kỳ thực hiện các hoạt động quân sự trong khu vực. Đây là quan ngại mà chúng tôi đã nêu rất thẳng thắn và trực tiếp với Trung Quốc. Vùng nhận dạng đó không nên được lập ra và Trung Quốc không nên có những hành động đơn phương tương tự ở những nơi khác trong khu vực, đặc biệt tại biển Đông.

Trong thời gian tới, tôi rất tin tưởng rằng mối quan hệ này sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn và chúng ta sẽ đạt được tiến triển. Ngày nay, Việt Nam là một đất nước cam kết có một tương lai khác biệt, một tương lai tốt hơn. Bất chấp một lịch sử khó khăn mà hai nước chúng ta đã cùng chia sẻ, trong nhiều chuyến thăm mà tôi đến đây, tôi luôn rất ấn tượng, từ sự hợp tác giải quyết vấn đề POW/MIA đến việc dỡ bỏ lệnh cấm vận, bình thường hóa quan hệ, và giờ đây hai nước đang hợp tác để thực sự có được định nghĩa rõ ràng và một sự nở rộ các cơ hội hòa bình giữa hai nước. Chúng ta đang dần tiến đến lễ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ hai nước, chúng tôi biết rằng một Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng và độc lập, tôn trọng nhà nước pháp quyền và nhân quyền sẽ là đối tác chính của Hoa Kỳ để giải quyết các thách thức toàn cầu và trong khu vực mà hai bên cùng gặp phải.

Cảm ơn Ngài Bộ trưởng rất nhiều vì đã đón tiếp tôi và phái đoàn của tôi tại đây. Tôi rất cảm kích về các thảo luận của chúng ta. Chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn để trao đổi tại bữa ăn tối hôm nay, tôi mong đợi cuộc gặp với Ngài Thủ tướng và Ngài Tổng bí thư. Xin cảm ơn

CHỦ TOẠ: (qua phiên dịch): Cảm ơn Bộ trưởng John Kerry. Tôi muốn dành thời gian cho câu hỏi của phóng viên. Xin mời phóng viên của Thông tấn xã Việt Nam.

CÂU HỎI: (qua phiên dịch) từ Thông tấn xã Việt Nam. Tôi xin có câu hỏi dành cho hai bộ trưởng. Quan điểm của hai bộ trưởng về triển vọng hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong lĩnh vực thương mại và đầu tư trong tương lai?

PHÓ THỦ TƯỚNG MINH: (qua phiên dịch) Tôi muốn trả lời câu hỏi từ Thông tấn xã Việt Nam. Liên quan đến thương mại và đầu tư, đây là một trong những ưu tiên của quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. (không nghe được) thương mại song phương (không nghe được) đã (không nghe được) quan hệ song phương (không nghe được) bất kỳ nước nào (không nghe được) Hoa Kỳ, nhà đầu tư đứng thứ bảy tại Việt Nam. Và chúng ta có tiềm năng rất lớn cho việc hợp tác về kinh tế, thương mại và đầu tư, trong các cuộc thảo luận chúng tôi đã trao đổi về vần đề này. Chúng ta có (không nghe được) thúc đẩy các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa sự hợp tác (không nghe được) trong tương lai. Bởi vì chúng ta có tiềm năng to lớn (không nghe được) trong lĩnh vực này.

NGOẠI TRƯỞNG KERRY: Cám ơn Bộ trưởng. Như tôi đã đề cập, thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam kể từ năm 1995 đã tăng 50 lần và vẫn đang tăng trưởng trên một nền tảng ổn định. Và chúng ta tin tưởng rằng nếu chúng ta có thể nhanh chóng đạt được thỏa thuận về Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, đối tác thương mại TPP thì điều đó sẽ tạo một liên minh thương mại nơi bạn có gần 40% GDP của cả thế giới cộng lại ở khu vực này, vốn là một thực thể thương mại rất hùng mạnh. Và nếu bạn nâng các tiêu chuẩn đối với thương mại – tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, các tiêu chuẩn lao động, v.v… – thì những gì bạn làm sẽ có lợi cho tất cả mọi người. Họ phải nâng các tiêu chuẩn của mình để có thể tham gia vào đó, nhưng cũng có thể cạnh tranh hiệu quả.

Do vậy, chúng tôi nghĩ rằng hiệp định thương mại này thực sự là một trong những bước quan trọng nhất mà cả hai nước chúng ta có thể thực hiện nhằm tạo ra việc làm tại mỗi nước. Việc làm sẽ được tạo ra tại Hoa Kỳ, việc làm sẽ được tạo ra tại Việt Nam và kết quả là cả hai nước chúng ta sẽ làm tốt hơn. Mới đầu tháng này, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, Đại sứ Froman, và đội ngũ của ông đã gặp gỡ các đại diện đến từ 11 quốc gia đối tác TPP. Và chúng tôi tự tin rằng các cuộc gặp gỡ đang giúp xây dựng động lực, rằng công việc có thể tiến triển tốt hơn, rằng các nhà đàm phán sẽ tiếp tục làm việc cật lực. Và các bộ trưởng đã có kế hoạch gặp lại vào đầu tháng Giêng. Vì vậy, chúng tôi rất, rất hy vọng rằng việc đạt được một hiệp định đầy tham vọng, toàn diện, tiêu chuẩn cao thực sự rất quan trọng cho việc tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng trưởng.

Hiện nay, một điều tôi đã nêu ra với Ngài Bộ trưởng đó là chúng tôi tin – chúng tôi ngẫu nhiên tin rằng Việt Nam thậm chí sẽ có thêm động lực hơn về mặt kinh tế, cạnh tranh hơn và hùng mạnh hơn nếu bắt đầu chuyển dịch các doanh nghiệp nhà nước sang khu vực kinh tế tư nhân và bắt đầu cạnh tranh trong khu vực kinh tế tư nhân theo cách mà hầu hết các quốc gia khác đang thực hiện. Chúng tôi nghĩ rằng điều đó sẽ tạo ra sự khác biệt, nhưng rõ ràng Việt Nam cần đưa ra quyết định của chính mình về kế hoạch hoặc ý định của mình. Nhưng chúng tôi tin rằng TPP có thể xác định rõ tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cho khu vực này và chúng tôi thực sự hy vọng các quốc gia sẽ nhanh chóng kết thúc hiệp định và thực hiện nó.

CÂU HỎI: Xin chào, tôi là Lesley Wroughton từ Reuters. Thưa Ngoại trưởng, hôm này ngài đã có công bố về an ninh hàng hải như thế nào; công bố của ngài hôm nay về tăng cường hỗ trợ cho an ninh hàng hải có tương xứng với những căng thẳng gia tăng với Trung Quốc? Những căng thẳng này dường như đã leo thang không chỉ ở Biển Hoa Đông mà còn cả ở Biển Đông.

Và thưa Ngài Phó Thủ tướng, ngài có cảm thấy bị Trung Quốc đe dọa không và sự hỗ trợ này giúp ngài đối phó với mối đe dọa đó như thế nào?

Một câu hỏi nữa cho Ngài Ngoại trưởng về TPP: Khi ngài rời Washington, 47 nhà làm luật gửi cho ngài bức thư yêu cầu ngài gắn các cuộc đàm phán TPP với Việt Nam với những tiến bộ về nhân quyền. Hôm nay ngài có nhận được bất kỳ cam kết nào về việc cải thiện vấn đề nhân quyền không?

NGOẠI TRƯỞNG KERRY: Liên quan đến công bố về hàng hải mà chúng tôi đã đưa ra hôm nay, tôi xin nói một cách đơn giản và trực tiếp như sau công bố về hàng hải này không liên quan gì đến bất kỳ công bố nào gần đây của bất kỳ quốc gia nào hay bất kỳ căng thẳng nào trong khu vực. Đơn giản đây không phải là phản ứng đối với các công bố gần đây. Đây là một phần của sự phát triển từng bước và có tính toán đã được lên kế hoạch một thời gian mà chúng tôi đang xúc tiến. Nó được mở rộng dựa trên các hiệp định và chương trình đã có và nó được xây dựng dựa trên một cam kết nhằm tăng cường khả năng hàng hải trong ASEAN và trong khu vực này. Vì vậy đây thực sự là một chính sách đang diễn ra và không phải là một dạng phản ứng mới định hình đối với bất kỳ sự kiện nào trong khu vực.

Liên quan đến bức thư, tôi hiểu rất rõ vấn đề này. Như tôi đã nói lúc đầu, chúng tôi có thảo luận vấn đề này. Tôi nêu vấn đề này với Ngài Bộ trưởng Ngoại giao. Đã có một số tiến bộ đang đạt được, và chúng tôi đã khuyến khích thêm nhiều tiến bộ nữa cần đạt được. Số nhà thờ đăng ký đã gia tăng. Đã có những gia tăng trong khuôn khổ quy trình hiến pháp mới về một số quyền bổ sung. Có một số điều mà chúng tôi muốn được thực hiện nhưng chưa được, và chúng tôi đã nêu những vấn đề này. Nhưng tất nhiên đây là cuộc đối thoại vẫn đang diễn ra. Tôi cũng nêu các trường hợp cụ thể của từng người và từng tình huống, và chúng tôi đã có những trao đổi rất trực tiếp và lành mạnh về vấn đề này. Và tôi muốn để ngài bộ trưởng tự nói về điều này vì không nghi ngờ gì ông ấy sẽ làm điều đó.

Nhưng điều chúng ta cần là thấy sự tiến bộ về vấn đề này, và tôi đã nói rất rõ là TPP, hiệp định 123, thiện ý của Quốc hội trong việc thúc đẩy bất kỳ sáng kiến nào rõ ràng đều bị ảnh hưởng bởi mức độ tiến triển có thể nhận thấy.

PHÓ THỦ TƯỚNG MINH: (qua phiên dịch) (không nghe được). Như Ngài Ngoại trưởng đã đề cập, chúng tôi đã có mối quan hệ toàn diện và gần đây đã có (không nghe được). Chúng tôi có những khác biệt trên biển. Chúng tôi cũng có các thỏa thuận dựa trên 6 nguyên tắc định hướng trong việc giải quyết các vấn đề trên biển, kể cả việc (không nghe được) Liên Hiệp Quốc hoan nghênh (không nghe được) trong các nước ASEAN, các nước cũng đang thực hiện DOC và đang trong quá trình định hình DOC. Và đây là các giải pháp giúp duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải. Xin cảm ơn.

———————

(Tài liệu 3)

Phát biểu của Ngoại Trưởng Kerry trước các thành viên của Hiệp hội Thương Mại Hoa Kỳ và Chương Trình Giảng Dạy Kinh Tế Fulbright

Phát biểu John Kerry Ngoại trưởng Trung tâm Hoa Kỳ Thành phố Hồ Chí Minh Ngày 14 tháng 12 năm 2013

NGOẠI TRƯỞNG KERRY: Đại sứ David, cám ơn ông rất nhiều. Cám ơn sự lãnh đạo tuyệt vời của ông trong những năm qua. Xin chào Việt Nam. Tôi rất hạnh phúc có mặt tại đây hôm nay, rất hạnh phúc được trở lại. Thật là một vinh dự cho tôi được có mặt tại đây cùng với rất nhiều người đã thực sự tham gia và đóng góp vào sự chuyển đổi và thành công to lớn đang diễn ra tại Việt Nam.

Tôi sẽ chia sẻ một ít hoài niệm với các bạn. Lần đầu tiên khi tôi quay trở lại vào khoảng năm 1990, đây là một đất nước rất khác biệt. Hoa Kỳ và Việt Nam vẫn rất bế tắc. Lại còn có lệnh cấm vận và hai nước chưa giải quyết các vấn đề khó khăn còn lại của chiến tranh. Nhiều người trong chúng ta lúc đó đã mơ về một thời khắc mà khi nghĩ về Việt Nam, sẽ không nghĩ về cuộc chiến mà chỉ nghĩ về một đất nước có những điều bình thường mà nước nào cũng có. Tôi rất tự hào và vui mừng để nói với các bạn rằng đối với tôi, ngày hôm nay đại diện cho thời khắc đó.

Lần gần đây nhất tôi có mặt tại Việt Nam là vào năm 2000 cùng với Tổng thống Bill Clinton. Chúng tôi đến sau khi việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã diễn ra và lệnh cấm vận đã được Tổng Thống Bush, George Herbert Walker Bush dỡ bỏ trước đó vài năm. Một vài người trong đó có thượng nghị sĩ John McCain và tôi, đã tham gia vào tiến trình này ngay từ đầu. Vẫn còn rất nhiều vấn đề khó khăn cần phải giải quyết. Chúng ta có vấn đề tù nhân chiến tranh/ binh lính mất tích trong chiến tranh mà người dân trên khắp đất nước Hoa Kỳ cảm thất rất quan trọng. Dĩ nhiên, cũng có vấn đề về chất da cam và các chất hóa học của chiến tranh tại Việt Nam.

Tôi nghĩ không có hai nước nào từng làm việc tích cực hơn, làm nhiều việc hơn và làm tốt hơn để cố gắng xích lại gần nhau, để thay đổi lịch sử, thay đổi tương lai và mang lại một tương lai giờ đã rất khác xa cho người dân. Vẫn còn nhiều điều cần phải đạt được, nhiều việc cần làm. Tôi sẽ nói một vài lời về chuyện này. Nhưng tôi vẫn nhớ là khi đặt chân đến Hà Nội vào thời điểm đó, tôi nhìn thấy tất cả những hố bom. Hầu như không có xe máy. Hầu hết là xe đạp và rất ít xe hơi. Chả hề có đèn báo hiệu giao thông nào tại Hà Nội lúc đó hoạt động cả, chỉ có một vài khách sạn. Hà Nội lúc đó là nơi đã bị đóng băng trong thời gian. Không ai khỏi ngạc nhiên về một Việt Nam hiện đại. Những gì đã diễn ra trong vòng hơn hai mươi năm là rất đáng kinh ngạc. Tôi có thể nói rằng sự chuyển biến này không phải xảy ra ngẫu nhiên. Nó là kết quả của sự cam kết và tầm nhìn của nhiều người có mặt tại đây trong căn phòng này. Tôi muốn cảm ơn David trong vai trò là đại sứ, và công việc của toàn thể nhân viên của Đại sứ quán và lãnh sự quán, Khối Ngoại giao, Khối Dân sự, nhân viên địa phương và nước thứ ba. Mọi người đã phối hợp và làm việc rất hiệu quả.

Mối quan hệ giữa hai nước đã ngày càng phát triển khi chúng ta tiếp tục làm việc cùng nhau. Chúng ta có các chương trình trao đổi giáo dục mà đã đề cập hôm nay. Và tôi tin rằng, thực sự, bản thân đại sứ David đã tham gia không chỉ vào một mà tôi nghĩ là ba chương trình trao đổi giáo dục tại Châu Á, đó chỉ là một ví dụ về nền tảng và sự sâu sắc có thể giúp đóng góp vào những nỗ lực này. Đó là lý do tại sao tầm nhìn của các nhà giáo dục và nền tảng giáo dục lại rất quan trọng đối với sự chuyển biến tại đây. Và tôi muốn dành một chốc để nói rằng nhằm giúp sự chuyển đổi thực sự xảy ra, tôi không nghĩ được ra bất kỳ ai làm nhiều hơn là nhóm của Tom Vallely và Ben Wilkinson, những người đang dẫn dắt các nỗ lực của Đại học Harvard tại Việt Nam, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, một chương trình mà tôi rất tự hào ủng hộ trước tiên trong vai trò là thượng nghị sĩ. Chúng tôi đã thiết lập và xây dựng chương trình này thành Chương trình Fulbright lớn nhất trên thế giới. Hiện tại, tôi nghĩ rằng nó là chương trình lớn thứ hai trên thế giới và chúng tôi đã xem xét việc làm cho nó trở lại vị trí đầu tiên nếu chúng ta tiếp tục thực hiện chương trình này. Tôi muốn cảm ơn Tom và Ben vì tất cả những gì họ làm để đóng góp và sự chuyển đổi này.

Tôi cũng muốn cảm ơn Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ (Amcham) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã tạo ra một sự khác biệt to lớn tại đây. Trải nghiệm của AmCham tại Việt Nam đã thực sự đưa đến một thời kỳ hợp tác mới với thỏa thuận thương mại song phương vào năm 2001, gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 và giờ đây chúng ta đang đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tôi sẽ nói một đôi lời về nó.

Hãy dành một phút để nghĩ về thông tin này: Thương mại song phương đã tăng 50 lần kể từ năm 1995 nay lên 25 tỉ đô mỗi năm.Và chúng ta đang theo đúng lộ trình đáp ứng mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam trong vòng 5 năm, mục tiêu mà Tổng thống Obama đặt ra cách đây 5 năm. Việt Nam có tiềm năng trở thành một trong những đối tác kinh tế dẫn đầu của Hoa Kỳ trong khu vực, và chúng ta đang tiếp tục làm việc vì mục tiêu đó.

Hôm nay, chúng ta đang ở ngưỡng cửa của một sự chuyển đổi lớn khác sẽ mở ra nhiều cánh cửa đến các cơ hội, nó sẽ làm cho quan hệ đối tác của chúng ta sinh động hơn, và thẳng thắn mà nói, và có thể đem lại cho thị trường của chúng ta nhiều năng lượng và hiệu quả hơn. Những gì tôi đang nói là các cơ hội do Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương mang lại, một hiệp định thương mại tiêu chuẩn cao mà Việt Nam và Hoa Kỳ đang đàm phán cùng với 10 đối tác trong khu vực Thái Bình Dương. Các tiêu chuẩn cao của Hiệp định này sẽ duy trì được đà cải cách thị trường, hiện đại hóa và hội nhập khu vực mà chính phủ Việt Nam luôn xem là ưu tiên. Hiệp định sẽ hoàn thiện các nỗ lực của Việt Nam nhằm chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước và các lãnh vực quan trọng của nền kinh tế như năng lượng, và ngân hàng giúp thu hút nhiều đầu tư hơn.

Hôm nay, tôi rất vui được thông báo là chúng tôi sẽ cung cấp một khoản ban đầu trị giá 4,2 triệu đô la cho chương trình Governance for Inclusive Growth của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Đây là chương trình giúp thực hiện Hiệp Định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Nó không phải là một khoản viện trợ. Tôi muốn nói rõ. Đó là một khoản đầu tư, một đầu tư vào sự tăng trưởng rộng khắp và bền vững.

Và tôi nghĩ rằng đây chính là thêm một cách Hoa Kỳ muốn giúp Việt Nam phát triển vai trò của mình trong nền kinh tế toàn cầu. Và khi nghĩ về nó, bạn sẽ thấy nó diễn ra ngay trên các con đường đi bộ xung quanh đây. Bốn mươi phần trăm dân số tại đây dưới 25 tuổi. Tôi nghĩ về nó trên đường đi vào thành phố, nhìn những dòng xe máy. Và tôi nói rằng rất nhiều người đang đi trên những chiếc xe máy này chỉ khoảng tám, chín hay mười tuổi khi tôi đến đây lần trước. Tôi muốn cho các bạn thêm một ví dụ nữa về sự tăng trưởng và về thời gian đã trôi qua.

Để tạo ra các công việc có thu nhập cao và cơ hội kinh tế, cần có một vài điều cơ bản, và tôi muốn nói một vài lời về chuyện này. Bạn cần một thị trường tự do. Bạn cần một thị trường tự do cho các ý tưởng. Con người cần tự do bày tỏ suy nghĩ. Bạn cần dám chấp nhận thất bại. Bạn cần có thể sáng tạo. Bạn cần có thể nói ra và thúc đẩy các ý tưởng mới về thương mại và phát triển và tạo ra các sản phẩm mới.

Và Hoa Kỳ tin tưởng chắc chắn rằng, như những gì chúng ta đã nhìn thấy từ Slovenia cho đến Hàn Quốc, việc xây dựng một xã hội càng cởi mở và tự do là thiết yếu đối với sức mạnh và sự thành công lâu dài của đất nước. Việt Nam đã chứng minh rằng cởi mở nhiều hơn sẽ là chất xúc tác cho một xã hội mạnh mẽ và thịnh vượng hơn, và ngày nay Việt Nam có cơ hội lịch sự chứng minh điều đó nhiều hơn nữa. Cam kết đối có một môi trường internet cởi mở, một xã hội cởi mở, đối với quyền của người dân có thể trao đổi ý kiến, một nền giáo dục có chất lượng cao, một môi trường kinh doanh ủng hộ các công ty cải tiến, bảo vệ quyền của con người của người dân và khả năng họ phối hợp cùng nhau bày tỏ ý kiến- tất cả những điều này sẽ tạo ra một nền kinh tế cũng như một xã hội năng động và mạnh mẽ hơn. Chúng giúp làm vững mạnh đất nước, không hề làm suy yếu nó. Hoa Kỳ thúc dục các lãnh đạo tại đây đón nhận khả năng này và bảo vệ các quyền nói trên.

Các cơ sở giáo dục đại học Hoa Kỳ tại Việt Nam đã cung cấp một phần của nền giáo dục có chất lượng tốt nhất trên thế giới, và tôi đã ủng hộ một chương trình trong một thời gian dài, đó chính là Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình này đã tạo cơ hội cho rất nhiều các quan chức chính quyền Việt Nam học về chính sách kinh tế. Tiến trình trao đổi này là một cách tuyệt vời cho người dân nhìn thấy những gì phần còn lại của thế giới đang làm và mang ý tưởng đó về nước mình, không ngại thay đổi và đón nhận các khả năng của tương lai.

Khi tôi gặp Bộ trưởng Ngoại giao hiện tại của Việt Nam tại thành phố New York- thực ra khi tôi gặp Bộ trưởng tại Washington, Bộ trưởng đến gặp tôi lần đầu tiên tại Washington- ông ấy đưa cho tôi một bức hình. Khi tôi nhìn vào bức hình đó, tôi nhìn thấy một anh chàng John Kerry trẻ trung, tóc đen nâu và một bộ trưởng rất trẻ, chúng tôi đứng cạnh nhau bên ngoài trường Fletcher Luật và Ngoại Giao, thuộc đại học Tuft, nơi chúng tôi lần đầu gặp nhau trong một chương trình trao đổi cách đây 20 hay 30 năm.

Các bạn, đó là cách mà mọi việc diễn ra. Hiện tại, có các ngoại trưởng, các thủ tướng, các bộ trưởng môi trường, bộ trưởng tài chính, tổng thống của các nước trên khắp thế giới đã chia sẻ các trải nghiệm giáo dục tại những nơi khác nhau. Tôi rất vui khi thấy lãnh đạo của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright có mặt tại đây hôm nay, và tôi trông đợi được làm việc với chính phủ Việt Nam để thành lập trường Đại Học Fulbright tại Việt Nam trong tương lai gần. Chúng tôi cũng nhìn thấy rất nhiều các công ty cải tiến của Hoa Kỳ tại đây, và tôi có dịp gặp một vài người trong các bạn đã tham gia vào hoạt động doanh nghiệp. Chad Ovel có mặt tại đây hôm nay đến từ công ty AA Corporation, công ty đã giúp giới thiệu cách trồng rừng bền vững cho Việt Nam, và anh ấy đã chỉ ra rằng chúng ta không phải lựa chọn giữa việc ủng hộ bảo vệ môi trường hay ủng hộ làm kinh tế. Chúng đi cùng nhau và tương lai đòi hỏi là chúng phải đi cùng nhau. Sự thành công của Sherry Boger tại Intel và Khoa Pham tại Microsoft chỉ rõ rằng các tiêu chuẩn cao về sở hữu trí tuệ thực sự giúp cải tiến và tạo ra công ăn việc làm.

Chúng ta vừa mới chứng kiến một lễ ký kết thật tuyệt vời tại đây với công ty General Electric (GE). General Electric là một công ty nữa của Hoa Kỳ được lợi từ mối quan hệ kinh tế phát triển với Việt Nam đồng thời cũng giúp Việt Nam tăng trưởng.

Công ty GE ký kết một thỏa thuận với Vietnam Airlines vào tháng 10 để bán cho Vietnam Airlines các động cơ máy bay trị giá 1,7 tỉ đô la cho máy bay Boeing 787. Cách đây một vài phút, như một vài bạn đã chứng kiến, chúng ta ký kết thỏa thuận trị giá xấp xỉ 94 triệu đô la Mỹ cho công ty Công Lý để cung cấp đợt hai các turbine cho dự án năng lượng điện gió tại tỉnh Bạc Liêu.

Dự án này, được sự cung cấp tài chính từ Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hoa Kỳ và Ngân hàng Phát triển Việt Nam, sẽ giúp Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về điện, đồng thời sản xuất năng lượng điện sạch cho vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, và là một ví dụ cho các cách thức mà trong đó xác định mô thức cho loại năng lượng mới.

Ngay tại Việt Nam, dù chúng ta đang nói về cam kết với trao đổi kinh tế, trao đổi giáo dục nhiều hơn, hay hỗ trợ của chúng ta cho các doanh nghiệp trẻ và cho một môi trường trong sạch hơn, tôi tự hào nói rằng Hoa Kỳ đang sử dụng tối đa các công cụ ngoại giao vào công việc. Rõ ràng là quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, thú vị nhất, và tôi tin tưởng rằng chúng ta chỉ mới bắt đầu. Đây chỉ là khởi đầu, và có rất nhiều cơ hội to lớn phía trước. Với việc tiếp tục cam kết của tất cả các bạn trong phòng này và các đối tác trên khắp cả nước, tôi tin tưởng tuyệt đối rằng những mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ là trụ cột của sự thịnh vượng chung và lớn hơn trong nhiều thập niên tới.

Và tôi sẽ nói với các bạn một điều. Cách đây nhiều năm, suy nghĩ mà chúng ta muốn khi nghĩ về Việt Nam, trong rất nhiều năm khi bạn nói từ “Việt Nam”, chúng ta chỉ nghĩ về một cuộc chiến. Nhiều người trong chúng ta không muốn nghĩ theo cách đó. Giờ đây, khi bạn nói từ “ Việt Nam” và bạn nghĩ về một đất nước, bạn nghĩ về một sân chơi đã thay đổi, một trong những quốc gia đang tăng trưởng, chuyển đổi và đóng góp của thế giới.

Tôi nghĩ rằng cơ hội cho tương lai là to lớn. Nếu tập trung đúng vào sự cởi mở và tự do của xã hội, tôn trọng đúng đắn con người và quyền của họ, tập trung đúng đắn vào tăng trưởng và giáo dục, tôi sẽ chẳng hề có nghi ngờ rằng tất cả những năng lượng và nỗ lực đó dùng vào việc cố gắng định ra một phương hướng mới, nó sẽ mang lại thành công to lớn.

Thật vinh dự cho tôi có mặt tại đây. Cám ơn rất nhiều, tất cả các bạn, đã tham dự sự kiện này. Tôi đặc biệt cảm ơn các doanh nghiệp, đang thực sự tạo ra sự khác biệt tại đây. Rất vui được gặp gỡ các bạn. Cảm ơn (vỗ tay). (Hết phát biểu)

(Theo Việt Báo)

About trinhngoctoan

trinhngoctoan's Blog
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s